Hệ thống pin lưu trữ năng lượng (BESS) và mô hình kinh doanh

Việc phát triển hệ thống tích trữ năng lượng ở Việt Nam khi nguồn điện từ năng lượng tái tạo tăng cao là xu thế tất yếu nhằm đảm bảo vận hành hệ thống điện ổn định, an toàn. Nhưng vấn đề đặt ra là cơ chế đầu tư, vận hành BESS và giá mua điện từ hệ thống (trong chế độ nạp điện), cũng như giá bán điện từ BESS.

Xây dựng hệ thống pin lưu trữ năng lượng (BESS)

Hiện nay đã có một số tổ chức như Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Tổng Lãnh sự quán Hoa Kỳ… đề xuất thực hiện dự án hệ thống pin lưu trữ năng lượng (BESS) thí điểm nhằm thăm dò việc khai thác các ứng dụng và lợi ích khác của việc tích hợp BESS vào mạng lưới truyền tải điện, đồng thời cung cấp trường hợp thí điểm để nghiên cứu, xây dựng các quy định pháp lý đối với hệ thống BESS.

Cụ thể, ngày 15 tháng 10 năm 2021 Tổng Lãnh sự quán Hoa Kỳ tại TP Hồ Chí Minh đã công bố tài trợ 2,96 triệu USD cho Công ty AMI AC Renewables thực hiện dự án thí điểm phát triển hệ thống pin lưu trữ năng lượng tại Việt Nam. Dự án sẽ sử dụng công nghệ, thiết bị hàng đầu của Mỹ, xây dựng và kết nối với nhà máy điện mặt trời với công suất 50 MW của AMI AC Renewables tại tỉnh Khánh Hòa, nhằm giúp giảm tổn thất năng lượng, cũng như giúp Việt Nam tích hợp nhiều năng lượng tái tạo hơn vào hệ thống năng lượng quốc gia. Đây là tiền đề cho việc phát triển hệ thống BESS nhằm vận hành ổn định hệ thống lưới điện ở nước ta.

Hệ thống BESS sử dụng 4*1000kWh pin lưu trữ LFP và 4 biến tần Sinxcel 500kw tại Davis, California
Ảnh minh họa: Hệ thống BESS sử dụng 4*1000kWh pin lưu trữ LFP và 4 biến tần Sinxcel 500kw tại Davis, California

Các mô hình kinh doanh BESS trong hệ thống điện

Có nhiều mô hình đầu tư BESS trong hệ thống điện, theo phạm vi cũng như việc sở hữu BESS.

Theo phạm vi, BESS có thể được đầu tư để tham gia hoạt động thị trường bán buôn, trong ứng dụng cụ thể tại các trạm truyền tải, nhà máy, cho các mục đích kỹ thuật và trong ứng dụng tại phụ tải.

Theo chủ sở hữu, BESS có thể được sở hữu bởi một trong các chủ sở hữu, hình thức sở hữu như công ty điện lực, nguồn phát điện độc lập, nhà cung cấp BESS, nhà cung cấp dịch vụ năng lượng (ESCO), khách hàng dùng điện.

Theo phân loại mô hình, mô hình sở hữu có thể được chia làm ba loại sau đây:

  1. Thứ nhất: Mô hình bên thứ ba: Là mô hình trong đó toàn bộ đầu tư thiết bị hệ thống BESS, vận hành và bảo trì được cung cấp bởi một bên thứ ba theo các thỏa thuận hợp đồng, không phải khách hàng dùng điện hay đơn vị bán điện. Mô hình này có phần tương tự như dịch vụ thỏa thuận cung cấp điện với nhà cung cấp điện độc lập và thường có giá trị kéo dài nhiều năm. Trong mô hình này, phía đơn vị sử dụng dịch vụ (có thể là khách hàng sử dụng điện, hoặc đơn vị bán điện) quyết định chu kỳ nạp xả, phía cung cấp dịch vụ nhận được một khoản chi trả cố định hằng tháng theo công suất BESS và một khoản chi trả theo dung lượng BESS được sử dụng. Khoản chi trả cố định tương ứng với chi phí đầu tư và khoản chi phí theo dung lượng tương ứng với công vận hành, bảo trì BESS. Bên cạnh đó, phía cung cấp dịch vụ cần có sự bảo đảm mức công suất khả dụng và hiệu suất của hệ thống.
  2. Thứ hai: Mô hình đầu tư toàn bộ: Là mô hình khách hàng dùng điện, hoặc công ty điện lực sở hữu toàn bộ hệ thống BESS, đồng thời cũng chịu trách nhiệm vận hành, bảo trì hệ thống.
  3. Thứ ba: Mô hình phối hợp đầu tư: Là mô hình có thể phù hợp với các đơn vị bán điện phụ thuộc các nhà đầu tư ngoài khu vực bán điện, hoặc các đơn vị bán điện phụ thuộc các nhà đầu tư trong cùng khu vực. Với các đơn vị bán điện phụ thuộc các nhà đầu tư ngoài khu vực, việc đầu tư, vận hành BESS có thể hoàn toàn phục vụ cho lợi nhuận của các nhà đầu tư. Trong trường hợp còn lại, lợi ích khi vận hành BESS được dung hòa với khả năng bảo đảm năng lượng cho khu vực và các yếu tố khác có tính khu vực. Trong trường hợp thứ hai, lợi nhuận của vận hành BESS phụ thuộc vào tiêu thụ điện của chính các nhà đầu tư.

Một số rào cản trong phát triển BESS:

Đây là loại hình đầu tư chưa xuất hiện tại Việt Nam nên chưa có chính sách về giá bán điện theo giờ cao điểm, thấp điểm; giá phân biệt giữa điện NLTT và điện từ NLTT có kết hợp BESS. Trong các quy định hiện hành chưa đề cập đến công nghệ tích trữ năng lượng, do đó cần thiết phải hiệu chỉnh, bổ sung cho phép các công nghệ này tham gia vào vận hành hệ thống điện và thị trường điện.

Để giải quyết vấn đề này, ngày 2/4/2021 EVN đã có Văn bản số 1645/EVN-KH đề nghị Thủ tướng Chính phủ giao EVN nghiên cứu đầu tư thí điểm hệ thống BESS với mục đích chuyển dịch năng lượng/điều chỉnh tần số để xác thực tính năng thiết bị, đánh giá khả năng và tích lũy kinh nghiệm vận hành BESS trong hệ thống điện, làm cơ sở đề xuất các cơ chế, chính sách, quy định pháp quy có liên quan đến phát triển, vận hành hệ thống BESS trong hệ thống điện. Chi phí đầu tư, vận hành thí điểm hệ thống BESS được hạch toán vào chi phí sản xuất điện của EVN, hoặc theo quyết định của cấp có thẩm quyền.

Kết luận:

Việc phát triển hệ thống tích trữ năng lượng khi nguồn điện từ NLTT tăng cao là xu thế tất yếu nhằm đảm bảo vận hành hệ thống điện ổn định, an toàn. Với quan điểm phát triển hệ thống điện Việt Nam trong những năm tới là phát triển cân bằng nguồn điện theo các vùng miền trên cơ sở nhu cầu tiêu thụ tại chỗ, điều này sẽ làm giảm nhu cầu truyền tải liên vùng, giảm tổn thất và tăng hiệu quả hoạt động cho hệ thống điện. Để đạt mục tiêu giảm phát thải ròng carbon đến năm 2050 về không, chính sách năng lượng cần phải thúc đẩy các thành phần kinh tế khác nhau tham gia đầu tư hệ thống tích trữ năng lượng cả ở quy mô lớn, nhỏ và siêu nhỏ. Có như vậy mới thay thế được nền tảng năng lượng than của hệ thống điện Việt Nam hiện nay. Nhưng vấn đề cốt lõi là cần có cơ chế đầu tư, vận hành BESS và giá mua điện từ hệ thống (trong chế độ nạp điện), cũng như giá bán điện từ BESS.

Gần đây, các công nghệ BESS thế hệ mới có hiệu quả năng lượng ngày càng cao, đồng thời góp phần cải thiện tính kinh tế cũng như độ tin cậy của các nguồn NLTT. Ngoài ra, chi phí cho công nghệ BESS lithium-ion được dự báo sẽ tiếp tục giảm xuống trong vòng 5 – 7 năm tới. Nếu Chính phủ đưa ra chính sách trợ giá hợp lý, quy định giá theo phương án cố định cho cả vòng đời dự án, hoặc điều chỉnh hàng năm phù hợp với việc điều chỉnh giá bán điện bình quân mà nền kinh tế và người sử dụng điện chịu đựng được, đồng thời đảm bảo để chủ đầu tư dự án BESS thu hồi được chi phí đầu tư, có lợi nhuận hợp lý thì chắc chắn hệ thống BESS sẽ ra đời nhanh chóng, phù hợp với việc phát triển nguồn điện từ NLTT của nước ta.

Theo Tạp chí năng lượng Việt Nam

———————–

Tin tức liên quan

Cần hành lang pháp lý cho hệ thống điện lưu trữ

Để lại bình luận

Địa chỉ email của bạn sẽ được giữ bí mật. Trường dấu * là bắt buộc nhập